Một số bệnh thường gặp trên cá rô phi trú đông và cách phòng trị

Trong quá trình lưu giữ giông qua đông cần thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khỏe của cá. Đặc biệt cần theo dõi hoạt động của cá nhằm phát hiện kịp thời các bệnh sau để có biện pháp trị bệnh.

Bệnh do vi khuẩn

Tác nhân gây bệnh: cầu khuẩn steptococcus iniae, gram (+).

Dấu hiệu bệnh lý: Đầu tiên cá bơi yếu, lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, hậu môn, gốc vây chuyển màu đỏ, mắt, mang xuất huyết. Khi giải phẫu bệnh thấy cơ bị xuất huyết, máu loãng, thận, gan, lá lách bị dịch hoá (mềm nhũn). Cá bị bệnh nặng bơi quay tròn không định hướng, mắt đục và lồi ra, bụng trương to.

Phân bố và lan truyền bệnh: Bệnh xuất huyết do cầu khuẩn gặp ở nhiều loài cá nước ngọt, cá rô phi khi nuôi năng suất cao trong hệ tuần hoàn khép kín, dễ phát bệnh.

Phòng bệnh: cải thiện môi trường nuôi ổn định, bón vôi tuỳ theo pH môi trường.

Liều lượng vôi bón từ 1 - 2kg/100m2, mỗi tháng bón từ 2 - 4 lần. Dùng vôi bột trải đều trên mặt ao hoặc hòa vào nước rồi té đều.

Dùng erythromycine trộn vào thức ăn với liều lượng 2 - 5g/100kg cá/ngày và cho ăn đều từ 3 - 5 ngày. Có thể hòa loãng thuốc và té đều lên mặt ao với nồng độ 1 - 2g/m3, sang ngày thứ hai trộn vào thức ăn 4g/100kg cá. Từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm, giảm bớt 1/2.

Vitamin C phòng bệnh xuất huyết: Liều dùng thường xuyên cho cá 20 - 30mg/lkg cá/1 ngày. Vitamin được trộn đều vào thức ăn và cho ăn liên tục 7 - 10 ngày.

Bệnh ký sinh trùng

* Bệnh trùng bánh xe

Tác nhân gây bệnh: Một số loài trong họ trùng bánh xe trichodinidae.

Dấu hiệu bệnh lý: Khi mới mắc bệnh trên thân, vây cá có nhiều nhớt màu hơi trắng đục, ở dưới nước thấy rõ hơn so với khi bắt cá lên cạn. Da cá chuyển màu xám. Cá cảm thấy ngứa ngáy, thường nổi từng đàn lên mặt nước. Một số con tách đàn bơi quanh bờ ao. Khi bệnh nặng, trùng bám dày đặc ở vây, mang, phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở. Những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng.

Phân bố và lan truyền bệnh: Trùng bánh xe gây bệnh chủ yếu ở giai đoạn cá giống. Đây là bệnh ký sinh đơn bào nguy hiểm nhất của giai đoạn cá giống. Cá rô phi khi ương, bệnh trùng bánh xe đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ sống, tỷ lệ chết cao, từ 70 - 100%. Bệnh thường phát vào mùa xuân, mùa thu, khi nhiệt độ nước 25 - 30°C. Bệnh thường gặp nhất trên cá rô phi giống lưu qua đông.

Trị bệnh: Dùng nước muối NaCl 2 - 3% tắm cho cá 5 - 15 phút hoặc dùng CuSO4 nồng độ 3 - 5ppm (3 - 5g/m3) tắm cho cá 5 - 15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 - 0,7 g/m3 nước. Sau khi phun thuốc 2 - 3 ngày, nên thay nước mới cho cá để cải thiện môi trường nuôi.

* Bệnh trùng quả dưa (bệnh đốm trắng)

Tác nhân gây bệnh: Trùng quả dưa (ichthyophthyrius multifiliis).

Dấu hiệu bệnh lý: Da, mang, vây của cá bị nhiễm bệnh có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu trắng hơi đục (đốm trắng), có thể thấy rõ bằng mắt thường. Da, mang cá có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt. Trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở. Khi cá yếu quá chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước.

Cá rô phi nuôi qua đông ở miền Bắc hoặc nuôi trong nhà ương, thường gặp trùng quả dưa gây bệnh làm cá chết hàng loạt. Bệnh trùng quả dưa phát vào mùa xuân, mùa đông.

Phòng trị bệnh: Dùng formalin tắm vói nồng độ 200 - 250ml/m3, tắm trong thòi gian 40 - 60 phút hoặc phun xuống ao với nồng độ 20 - 25ml/m3, mỗi tuần phun 2 lần.

* Bệnh sán lá đơn chủ

Tác nhân gây bệnh: Sán lá đơn chủ (cichlidogyrus tilapiae, C.sclerosus, gyrodactylus niloticus).

Anh_minh_hoa

Dấu hiệu bệnh lý: Sán lá đơn chủ ký sinh trên da và mang của cá. Lúc ký sinh chúng dùng móc của đĩa bám sau bám vào tổ chức tuyến đầu tiết ra men hialuronidaza phá hoại tế bào tổ chức mang và da cá làm cho mang và da cá tiết ra nhiều dịch nhờn, ảnh hưởng đến hô hấp cá. Tổ chức da và mang bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh vật xâm nhập gây bệnh.

Phân bố và lan truyền bệnh: Chúng có thể gây thành bệnh khi nuôi mật độ dày ở giai đoạn ương cá giống và có thể gây chết hàng loạt cá ương trong các giai hoặc các bể. Bệnh phát vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông.

Phòng trị bệnh:

Không nên ương cá quá dày.

Dùng nước muối (NaCl) 2 - 3% tắm cho cá 5 - 15 phút.

Dùng KMnO4 nồng độ 20g/m3 tắm cho cá trong thời gian 15 - 30 phút. Dùng formalin tắm với nồng độ 200 - 250ml/m3, thời gian 30 - 60 phút hoặc phun xuống ao nồng độ 20 - 25ml/m3.

Bệnh nấm thủy mi

Tác nhân gây bệnh: Nấm thủy mi hay còn gọi là nấm nước, do các loài của 2 giống nấm là saprolegnia và achlya gây ra.

Dấu hiệu bệnh lý: Cá bơi lờ đờ xung quanh ao. Cá bị bệnh nặng sau một thời gian sẽ chết. Nấm thủy mi bám trên mình cá như những túm bông màu trắng, nhìn rõ nhất khi cá ở trong nước.

Biện pháp phòng trị: Để ngăn ngừa bệnh nấm thủy mi, điều quan trọng là giữ môi trường luôn sạch sẽ, nuôi dưỡng cá tốt, giữ cho cá không bị thương, xây sát, kịp thòi phòng trị các bệnh ký sinh trùng cho cá. Không kéo lưới hoặc vận chuyển cá rô phi khi nhiệt độ dưới 20°C. Với trứng cá rô phi, không nên thu trứng vào thời gian nhiệt độ nước còn lạnh dưới 22°C. Nước ấp trứng nên sử dụng nước giếng khoan giếng để hạn chế mầm bệnh. Khi cá bị bệnh, dùng dung dịch nước muối (NaCl) nồng độ 3% hoặc dung dịch thuốc tím (KMnO4) nồng độ 20mg/l tắm cho cá trong 15 - 30 phút.

Bài viết liên quan

Liên hệ với chúng tôi