CHUẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG TRANG TRẠI

Hiện nay , ngành nông nghiệp Việt Nam đang tiến bộ rất nhanh để theo kịp thế giới về chất lượng và năng suất. Để hướng dẫn bà con chăn nuôi đúng kỹ thuật mới nhất và hiệu quả nhất. Website kythuatnuoitrong.vn hướng dẫn bà con "CHUẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG TRANG TRẠI"

1.    Lợn sốt

1.1.    Chẩn đoản

❖    Đặc điểm lưu hành: chỉ có lợn nhà và lợn hoang nhiễm bệnh, có thể phát bệnh quanh năm. Trang trại lợn một khi đã phát bệnh không tiến hành tiêm chủng vắc-xin phòng vi-rút lợn sốt, trong thời gian ngắn bệnh sẽ lan ra rộng khắp, tỷ lệ phát bệnh và tử vong đều rất cao. Nhưng các nguyên nhân như khu vực thường phát dịch hay do mật độ phòng dịch không cao, hiện giá vắc-xin thấp và quy trình vắc-xin không đúng có thể gây ra dịch lẻ tẻ, tỷ lệ phát bệnh và tử vong thấp, biểu hiện lâm sàng là nóng ẩm, bệnh chuyển biến không điển hình.

❖    Triệu chứng lâm sàng: căn cứ vào thời gian phát bệnh dài hay ngắn có thể phân thành bổn thể: cực cấp tính, cấp tính, bán cấp tính, mãn tính. Ở ba thể đầu tiên, thân nhiệt của lợn tăng cao đến 40,5-42°C sốt liên tục, lông thưa và mỏng đi ở trong tứ chi, bụng, tai, xuất hiện các điểm đỏ, hồng kích thước khác nhau, không phai. Bạch cầu và tiểu cầu trong máu giảm. Ở trạng thái mẫn tính lợn sốt nhẹ, thiếu máu, gầy rạc, kém ăn, xen kẽ táo bón và tiêu chảy.

❖    Sự thay đổi bệnh lý: ba thể cấp tính của bệnh sốt lợn chủ yếu cho thấy sự thay đổi nhiễm trùng máu; trên và dưới da xuất hiện điểm xuất huyết; hàm lõm xuống, cổ, lá lách, các hạch bạch huyết bị sưng, đỏ thậm, chảy máu xung quanh; niêm mạc thanh quản, tiền đình thanh quản, niêm mạc bàng quang, niêm mạc ngoài tim, màng thanh dịch, niêm mạc phổi và ruột xuất huyết. Ở lợn sốt mãn tính manh tràng, trên đại tràng niêm mạc miệng và van hồi manh tràng hình thành nên những chỗ viêm loét.

1.2. Phương pháp phòng tránh, chữa trị

❖    Làm tốt công tác tiêm phòng vắc-xin lợn sốt, trình tự, phương pháp tiêm và những điều cần chú ý phải dựa vào sách mô tả trước đây để tiến hành thao tác cụ thể.

❖    Chuồng lợn thực hiện biện pháp “tự sinh tự dưỡng”, nếu phải mua lợn giống từ bên ngoài, nên chọn giống ở những nơi không có dịch bệnh và kịp thời làm công tác thử nghiệm lâm sàng và tiêm chủng phòng bệnh, sau khi cách ly theo dõi 2-3 tuần mà lợn không mắc bệnh có thể cho nhập đàn ăn chung.

❖    Biện pháp tiêm phòng khẩn cấp

-    Khi phát hiện nghi ngờ bệnh lợn sốt, phải lập tức cách ly và khử trùng tiêu hủy; đối với các vùng dịch và các khu vực bị đe dọa cần tiêm phòng ngay. Căn cứ vào rất nhiều thí nghiệm chứng minh, dùng vác-xin sống phòng chống vi-rút lợn sốt với liều lượng lớn tiêm cho lợn, có hiệu quả tốt trong việc khống chế dịch lợn sốt.

-    Các vùng có dịch nên dừng việc mua bán, vận chuyển, giết mổ và tiêu thụ lợn và dừng mua bán, vận chuyển sản phẩm từ thịt lợn.

❖    Khi trong chuồng lợn xuất hiện lợn sốt nhẹ hoặc lợn bị rối loạn sinh sản do sốt, phương pháp thanh lọc của sốt lợn cổ điển như sau:

-    Thực hiện tiêm chủng trước bú cho lợn con mới sinh, ngay sau khi lợn con được sinh ra chưa được bú sữa đầu lập tức tiêm một lần vắc-xin giảm độc lực vi-rút bệnh sốt lợn cổ điển hoặc vắc-xin đông khô nuôi cấy tế bào, sau khi miễn dịch được 2 giờ có thể cho bú, hiệu quả tốt. Vì kháng thể của lợn mẹ không thể xuyên qua nhau thai nên trước khi bú tiêm chủng có thể can thiệp và trung hòa giữa kháng nguyên được tiêm và kháng thể lợn mẹ cung cấp, kháng nguyên ừong cơ thể lợn con mới sinh sao chép, kích thích hệ miễn dịch sản sinh miễn dịch tương ứng, sản sinh sớm kháng thể chống lại vi-rút sốt lợn sẽ phát huy tác dụng miễn dịch chủ động, có thể đạt được hiệu quả miễn dịch cao.  

-    Tiêm vắc-xin sốt cho lợn mẹ cần tránh thời kỳ bắt đầu phối giống và mang thai, thích hợp nhất là trước khi phối giống và giai đoạn cho con bú hoặc cai sữa.

-    Phải kiểm ưa định kỳ hiệu giá kháng thể tăng cường độc, suy giảm độc sốt lợn của lợn mẹ và lợn nồng độ kháng thể bị suy giảm.

2.    Lở mồm long móng

Lở mồm long móng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, nhiệt tính, lây lan nhanh chóng do tiếp xúc trực tiếp với vi-rút lở mồm long móng, biểu hiện lâm sàng có thể dựa trên hiện tượng ở niêm mạc khoang miệng, mõm lợn, móng chân, vú có nốt phồng rộp, loét. Căn bệnh này phát bệnh và lây lan đều rất nhanh, gây tổn thất nặng nề về kinh tế.

2.1.    Chẩn đoản

❖ Đặc điểm lưu hành: vi-rút long móng lở mồm có 7 tuýp huyết thanh. Giữa các loại huyết thanh này không thể miễn dịch lẫn nhau. Mỗi một loại vi-rút đều có thể khiến cho động vật mắc bệnh cùng một lúc. Trong môi trường tự nhiên, kháng nguyên vi-rút long móng lở mồm rất dễ biến thể, trong cùng một tuýp mối quan hệ giữa các chủng cũng có sự khác biệt rất lớn. Vi-rút long móng lở mồm có thể lây truyền qua động vật bị bệnh, chất thải (như phân và nước tiểu của gia súc), chất tiết ra (như sữa, nước bọt, khí cơ thể tiết ra), mụn nước ngoài da bị vỡ, sản phẩm và sản phẩm phụ sau khi giết mổ, lông bị nhiễm bẳn, phương tiện giao thông vận tải, dụng cụ và phân chim và một số nguyên nhân khác.

❖ Triệu chứng lâm sàng: khi quan sát thì thấy miệng và chân động vật xuất hiện bệnh biến, có các triệu chứng đặc trưng là sau khi mụn nước bị vỡ, trên da xuất hiện các vết lở loét màu đỏ, kèm với cơn đau dữ dội và sốt cao 40-41,5°c, lợn bỏ ăn, ngừng nhai lại, môi run rẩy, có khi mấp máy môi và khó thở, khi bệnh nghiêm trọng miệng chảy nước bọt, chảy rãi quanh môi và mũi. Ở chân lợn cũng xuất hiện những mụn nước, khi bệnh nặng rụng móng. Khi đó lợn bệnh không đứng vững được, chân run rẩy, mềm nhũn.

2.2.    Phương pháp phòng tránh và chữa trị

Nguyên tắc cơ bản để dập tắt dịch bệnh là phát hiện, báo cáo, phong tỏa sớm vùng lợn mắc bệnh nhanh chóng, nghiêm ngặt, tránh tổn thất ở mức nhỏ nhất. Người nuôi khi phát hiện động vật ăn uống có dấu hiệu thất thường, như biếng ăn, buồn chán, nằm dài không đứng, khập khiễng, miệng sùi bọt mép, phải nhanh chóng mời cơ quan thú y đến kiểm ừa và chẩn đoán, nếu có vi-rút long móng lở mồm phải phân lợn ốm và lợn khỏe ra và cho ăn riêng, tiến hành các biện pháp phong tỏa.

❖    Lợn giống: định kỳ hàng năm sử dụng vắc-xin số 5 tiêm cho lợn mẹ và lợn giống một lần.

❖    Lợn con cai sữa mẹ: duy trì tiêm chủng hàng năm, khi lợn con được 40-45 ngày tuổi tiến hành tiêm lần đầu, nếu có thể ngày 60 tiêm nhắc lại để đạt hiệu quả cao hơn.

3.    Bệnh giả dại (hay còn gọi là bệnh Aujeszky)

3.1.    Chẩn đoản

Bệnh giả dại ở lợn là một loại bệnh truyền nhiễm do một loại vi-rút thuộc nhóm Herpesviridae gây ra cho động vật nuôi và động vật hoang dã. Lợn trưởng thành thường không có biểu hiện (nhiễm bệnh tiềm ẩn) hoặc có triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp, ở lợn đang mang thai dấu hiệu thường bị sẩy thai, thai chết lưu, lợn con đang bú có dấu hiệu bệnh viêm não và nhiễm trùng máu.

❖    Đặc điểm lưu hành: bệnh có thể phát quanh năm, nhưng bùng phát mạnh nhất là vào mùa đông-xuân và thời gian sinh nở. Bệnh này thường mắc khi lợn mẹ đang trong thời kỳ sinh nở đỉnh cao sẽ dẫn đến sẩy thai, thai chết lưu. Chủ yếu có thai chết lưu, tỷ lệ phát bệnh của ổ tương đối cao, sau đó giảm dần, trong mỗi ổ mắc bệnh thì có 2-3 con mắc, tỷ lệ tử vong thấp. Chuồng nuôi lợn cái khác chủ yếu biểu hiện lẻ tẻ, mỗi ổ phát bệnh 3-5 con, tỷ lệ tử vong cũng thấp. Lợn mới mang thai lần đầu hay nhiều lần đều mắc bệnh giả dại. Lợn con đang bủ biểu hiện phát bệnh bất ngờ, lợn con mới sinh trong tuần đầu tiên rất dễ mắc bệnh và có tỷ lệ tử vong cao, có thể là 100%; lợn con trước và sau khi cai sữa tỷ lệ phát bệnh và tử vong giảm thấp rõ rệt; lợn trưởng thành ít khi mắc bệnh giả dại, nếu có mắc chủ yếu là thoáng qua, không quá 3-5 ngày, nhưng nếu kéo dài sẽ mang và truyền nhiễm, trở thành nguồn lây lan bệnh.

❖ Triệu chứng lâm sàng: ở độ tuổi khác nhau thì triệu chứng cũng không giống nhau, nhưng đều không ngứa.

-    Lợn trưởng thành: lợn trưởng thành khi mắc bệnh giả dại thường nhiễm bệnh tiềm ẩn, có khi thấy xuất hiện triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp, có khi lại sốt trong một thời gian ngắn, ít hoạt động, ăn ít. Thông thường qua 3-5 ngày có thể tự khỏe lại.

-    Lợn mẹ mang thai: khi lợn mang thai ở giai đoạn đầu, mắc bệnh giả dại thì một tuần sau đó sẽ thường bị sẩy thai, nếu mắc bệnh trong thời kỳ giữa và sau thai kỳ sẽ sinh ra con chết hoặc sinh ra thai khô, lợn con sinh ra yếu, đa số chết trong 2-3 ngày, tỷ lệ sẩy thai cao, thường là 50%; giai đoạn cuối của dịch bệnh này (khoảng tuần thứ 4 sau khi mắc), tình hình dịch bệnh lợn dần chuyển biến tốt, thai chết lưu và sẩy thai diễn ra lẻ tẻ, tỷ lệ mắc và tử vong ở lợn con mới sinh giảm mạnh.

-    Lợn mẹ đang cho con bú: sáu khi mắc bệnh giả dại, lợn có thể không ăn, ho, sốt, sữa tiết ra ít hoặc ngừng tiết sữa, cùng với sự ngừng tiết sữa, lợn con khi thở cũng bị lây mầm bệnh giả dại từ lợn mẹ. Do tác dụng bảo vệ của kháng thể trong sữa đầu của lợn mẹ mà tỷ lệ tử vong ở lợn con thấp, nhưng 36 giờ sau khi bị lây nhiễm lợn có thể bắt đầu xuất hiện các biểu hiện trầm cảm, nôn mửa, run, tiêu chảy, mất nước, suy nhược, nằm đất không dậy, dẫn đến tử vong; có khi lại biểu hiện run rẩy, ngồi chống chân, chảy nước miếng, nước mũi ròng ròng và lên cơn co giật mạnh, giật mình, giai đoạn cuối tứ chi tê liệt, nằm úp xuống đất, đầu hướng về sau, chân tay hoạt động lung tung, cuối cùng là tử vong. Tỷ lệ tử vong khi mắc bệnh giả dại ở lợn con trong vòng 2 tuần tuổi là 100%, trong 3-4 tuần tuổi không đến 50%, lợn con sau khi cai sữa trong thời kỳ mắc bệnh thường bị viêm phổi, tỷ lệ tử vong là 30-50%.

❖    Sự thay đổi bệnh lý:

1)Viêm mủ màng não, tắc nghẽn màng não, phù nề, nhu mô nếu có đốm nhỏ xuất huyết.

2). Các hạch bạch huyết, lá lách, thận, gan, tim thường thấy nhiều điểm hoại tử màu xám hoặc hơi vàng đường kính 1-2mm, các điểm hoại tử giống như kim châm hoặc như hạt kê, số lượng không giống nhau.

3) Phổi có máu, phù nề, đường hô hấp xuất hiện viêm mủ và chảy máu, bên trong có chất lỏng nổi bọt.

4) Niêm mạc ruột cũng bị viêm và chảy máu, niêm mạc ruột già băng huyết.

3.2. Phương pháp phòng tránh, chữa trị

❖    Chỉ chọn giống lợn ở các trang trại không có bệnh và cho ra ngoài chuồng, cách ly kiểm dịch 1 tháng, trong thời gian đó tiến hành kiểm tra kháng thể huyết thanh, nếu kết quả âm tính với vi-rút mới có thể được nhập chuồng.

❖    Đối với các vùng có dịch hoặc khu vực bị đe dọa bởi dịch bệnh, chọn vắc-xin bất hoạt, vắc-xin bất hoạt xóa gen bệnh giả dại để tiêm chủng.

❖ Đối với các trang trại bệnh dịch giả dại đang hoành hành, phải tiến hành khẩn cấp tiêm chủng phòng bệnh cho toàn đàn lợn, chọn vắc-xin giảm độc lực, để tăng tốc độ và tạo ra miễn dịch bảo vệ toàn diện, nên kết hợp khử trùng, tiêu diệt động vật gặm nhấm, diệt muỗi và các biện pháp toàn diện khác, có thể nhanh chóng khống chế được dịch. Sau khi tình hình dịch bệnh ổn định, dùng vắc-xin bất hoạt nhũ tương dầu là chính, có thể nhanh chóng có được mức độ kháng thể ổn định và lâu dài, giảm khả năng của việc sử dụng vắc-xin nhược độc.

4.    Bệnh do Porcine Parvovirus trên lợn

4.1 Chẩn đoán

❖    Đặc điểm lưu hành: bệnh Porcine Parvovirus chủ yểu xảy ra ở lợn lần đầu mang thai, có thể lây truyền, đặc biệt là sau khi mua lợn nhiễm bệnh, gây ra bùng phát dịch bệnh. Lợn nái hậu bị bị nhiễm bệnh trong giai đoạn đầu thai kỳ, tỷ lệ tử vong của thai nhi rất cao 80-100%. Bệnh có tính lây truyền cao, vi-rút khi đã xâm nhập, trong 3 tháng có thể lây bệnh cho 100% đàn lợn và duy trì huyết thanh phản ứng âm tính ữong thời gian dài.

❖    Triệu chứng lâm sàng: thông thường, trong một khoảng thời gian mà chuồng lợn có rất nhiều lợn cái bị sẩy thai, thai chết, thai khô, thai nhi phát triển bất thường và các hiện tượng khác, hơn nữa đa số là lợn hậu bị, sau khi sẩy thai cơ thể chưa có bất cứ dấu hiệu lâm sàng nào. Phần lớn lợn đã từng sinh nở khi mắc bệnh, có thể đạt được khả năng miễn dịch tốt, thậm chí có thể kéo dài suốt đời. Nhưng sự kéo dài này có thể gây lây lan bệnh, khiến bệnh kéo dài khó dập tắt. Các tế bào tinh trùng, tinh dịch, mào tinh hoàn, tuyến sinh dục phụ của lợn đực mắc bệnh đều mang vi-rút, vì thế khi phối giống rất dễ lây bệnh cho lợn cái, ham muôn tình dục và tỷ lệ thụ tinh cùa lợn đực không có ảnh hưởng rõ rệt.

4.2.    Phương pháp phòng tránh, chữa trị

❖    Ngăn ngừa việc cho lợn bệnh vào chuồng lợn không mắc bệnh. Khi lựa chọn giống, phải kiểm tra bệnh này Porcine Parvovirus, thường dùng là phương pháp thử nghiệm ức chế ngưng kết hồng cầu ở lợn, nếu thấy âm tính với HI mới cho vào chuồng.

❖    Đối với lợn cái lần đầu sinh sản và lợn đực được chọn phối giống, một tháng trước khi phối giống cần tiêm phòng hai lần, mỗi lần cách nhau 15-20 ngày.

❖    Trong khu vực bệnh dịch Porcine Parvovirus hoành hành, có thể đưa lợn cái lâu năm có huyết thanh phản ứng âm tính vào trong đàn lợn giống hậu bị, khiến bị lây nhiễm tự nhiên để tự sản sinh miễn dịch.

❖    Những con lợn con còn lại không bị chết do sẩy thai hoặc sinh ra thai khô ở lợn mẹ mắc bệnh, không nên chọn làm giống.

5.    Bệnh hen suyễn

Loại bệnh này phân bố rộng, tỷ lệ phát bệnh cao, tỷ lệ tử vong thấp. Nguy hiểm chủ yếu của bệnh đối với lợn là làm giảm tỷ lệ sử dụng và hấp thụ thức ăn, dễ mắc các bệnh khác tiếp theo, bệnh có thể tái phát nếu điều kiện ăn uống không tốt.

Bệnh hen suyễn là bệnh mãn tính truyền nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn mycoplasma hyopneumoniae gây ra, tỷ lệ phát bệnh thường khoảng 50%. Triệu chứng lâm sàng của bệnh là ho, hen suyễn, khó thở, bệnh ở giai đoạn đầu và giữa lợn vẫn ăn bình thường, nhung kéo dài có thể làm giảm tỷ lệ sử dụng và hấp thụ thức ăn.

5.1. Chẩn đoán

❖ Triệu chứng lâm sàng: căn cứ vào quá trình mắc bệnh, đa phần có thể phân bệnh hen suyễn ở lợn thành ba thể: cấp tính, mãn tính và ẩn tính.

-    Thể cấp tính: khi một đàn lợn dễ bị mắc bệnh hen suyễn thường có biểu hiện ở thể này, đàn lợn này dễ bị nhiễm bệnh ở mọi lứa tuổi, nhất là lợn con đang bú; thứ hai là lợn mẹ mang thai giai đoạn cuối và giai đoạn cho con bú, tỷ lệ phát bệnh là 100%. Lợn bệnh thường không có triệu chứng báo trước, tinh thần đột nhiên giảm sút, cúi đầu, đứng một góc, ngồi chống chân, thở gấp, sổ lần ho ít nhưng dai dẳng, nhiệt độ cơ thể bình thường, bệnh kéo dài 1 -2 tuần, tỷ lệ tử vong rất cao.

-    Thể mãn tính: thể này thường thấy ở lợn trưởng thành (lợn thịt), lợn trưởng thành, lợn cái hậu bị được nuôi ở các vùng bệnh cũ. Lợn thường ho vào sáng sớm, tối muộn, sau khi vận động hoặc sau khi ăn, ho nhẹ dai dẳng. Cùng với sự phát triển của bệnh, thường cho thấy mức độ khác nhau của khó thở. Những biểu hiện này đôi khi rõ ràng, đôi khi giảm nhẹ. Không có nhiễm trùng thứ cấp, thân nhiệt thường không cao, thông thường lợn vẫn duy trì chế độ ăn, nhưng phát triển kém, bệnh kéo dài 2-3 tháng, thậm chí hon nửa năm. Nấu khả năng kháng bệnh của lợn kém, do vi khuẩn Pasteurella hoặc các vi sinh vật mang bệnh khác xâm nhập có thể gây viêm phổi cấp tính.

- Thể ẩn tính: thường thấy ở lợn ở những vùng nhiễm bệnh trước đây. Do điều kiện nuôi dưỡng tốt nên sau khi nhiễm bệnh không có biểu hiện mắc, nhưng trong cơ thể tồn tại tổn thương viêm phổi mức độ khác nhau. Cá biệt có con lợn sau khi vận động mạnh ngẫu nhiên ho, nếu quản lý chế độ ăn của lợn không tốt sẽ lại có thể xuất hiện các biểu hiện lâm sàng của thể cấp tính và mãn tính, thậm chí gây tử vong.

❖    Sự thay đổi bệnh lý: chủ yếu thay đổi ở phổi, hạch bạch huyết rốn, hạch bạch huyết của trung thất. Hai lá phổi phù to, mức độ phù nề khác nhau. Ở thùy trước và thùy giữa. Chỗ thùy phổi viêm sưng cứng dần màu đỏ nhạt rồi thành xám nhạt, mờ, ranh giới tổn thương rõ ràng, như bắp thịt tươi.

5.2.    Phương pháp phòng tránh, chữa trị

❖    Kiểm soát tổng hợp: Mycoplasma pneumoniae đối với khả năng kháng thể bên ngoài không manh, trong 36 giờ ở nhiệt độ phòng sẽ mất độc lực, ở điều kiện khô và lạnh hơn có thể duy trì sức sống lâu hơn. Thuốc khử trùng và kháng sinh thông thường đều có thể tiêu diệt và ngăn chặn. Do đó, có rất nhiều phương pháp phòng tránh và chữa trị bệnh này, nhưng đa số chỉ có hiệu quả chữa bệnh trên lâm sàng, không dễ loại trừ được nguồn bệnh, hơn nữa hiệu quả của phương pháp điều trị khác nhau có mối quan hệ mật thiết với mức độ bệnh nặng hay nhẹ, sức kháng thể của lợn, điều kiện chăn nuôi, khí hậu và các điều kiện khác. Vì vậy, để khống chế sự phát sinh của căn bệnh này, nên dựa chủ yếu vào các biện pháp đề phòng, sử dụng tổng hợp các biện pháp phòng ngừa và chữa trị.

Khu vực không có bệnh và trang trại nên thực hiện nguyên tắc “tự sinh tự dưỡng”. Nếu phải nhập lợn giống từ ngoài, không được nhập giống từ những nơi dương tính với bệnh này, hoặc trước khi nhập giống kiểm tra bằng cách chụp X-quang hoặc kiểm nghiệm huyết thanh và quan sát xa khu vực chăn nuôi ba tháng, sau khi kiểm tra xác nhận lợn khỏe mạnh mới tiến hành cho nhập đàn và tiêm chủng. Phát hiện lợn dương tính với bệnh hen suyễn cần phải cách ly điều trị, chữa khỏi rồi tiêm Vắc-xin.

Nếu do ấu trùng giun đũa (di chuyển qua phổi) và giun ở phổi cũng khiến bệnh hen suyễn trở nên nghiêm trọng hơn. Vì thế nên phối hợp thuốc tẩy giun để khống chế sự phát triển của bệnh có một ý nghĩa nhất định. Đối với đàn lợn nhiễm hen suyễn cần chăm sóc đặc biệt, tách biệt thức ăn, với những đàn lợn ho nặng có thể nghĩ đến sử dụng chế độ thức ăn ẩm, phân bữa. Kịp thời loại bỏ những con lợn bệnh chữa trị không đạt hiệu quả tốt nhằm ngăn chặn lây lan vi-rút.

Tăng cường quản lý chế độ ăn, nâng cao sức đề kháng của lợn: sử dụng phương thức cho ăn “ăn vào bao nhiêu ra bấy nhiêu”. Trước khi cho mỗi đợt lọn vào chuồng, chuồng lợn cần phải được khử trùng sạch sẽ, bỏ trống trên 7 ngày mới chuyển thêm đàn mới vào để kiểm soát bệnh dịch. Duy trì mức độ dinh dưỡng cân bằng và hợp lý, tránh trong thức ăn có chứa độc tố nấm mốc gây ức chế miễn dịch của lợn, bảo đảm hệ thống miễn dịch hoạt động bình thường. Dựa vào sự thay đổi thời tiết bốn mùa làm tốt công tác kiểm soát môi trường khí hậu trong chuồng, tăng cường thông gió đối lưu, duy trì không khí trong sạch trong chuồng, giảm nồng độ ammoniac, từ đó giảm được sự phát sinh bệnh đường hô hấp. Đồng thời chú ý kiểm soát nhiệt độ chuồng trại, làm tốt công tác phòng lạnh giữ ấm và các công tác khác, tránh sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm quá lớn. Mật độ nuôi và sự phát bệnh hen suyễn có mối tương quan với nhau, duy trì mật độ nuôi hợp lý có thể có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh hen suyễn, nâng cao công tác vệ sinh khử trùng. Chọn thuốc khử trùng có tác dụng trên diện rộng và phát huy tác dụng tổt nhất, không gian được khử trùng bằng sương sẽ có hiệu quả cao hơn. Hạn chế số lần chuyển chuồng và nhóm hỗn hợp của đàn lợn, số lần chuyển chuồng và nhóm hỗn hợp càng nhiều, tý lệ phát bệnh hen suyễn càng cao, giảm bớt các yếu tố căng thẳng để lợn được sống trong một môi trường ấm áp, thích hợp, yên tĩnh, sạch sẽ, khô ráo.

❖    Miễn dịch: có thể dùng vắc-xin bất hoạt vi-rút mycoplasma hyopneumoniae hoặc vắc-xin giảm độc lực vi-rút mycoplasma hyopneumoniae để tiêm chủng. Tiêm cho lợn một lần vào mùa xuân hàng năm, lợn con bú mẹ sau 15 ngày tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên, đến 3-4 tháng tuổi tiêm nhắc lại mũi thứ hai, lợn đang vỗ béo không tiêm quá hai lần.

6.    Dịch cúm

Đây là bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính do dịch cảm cúm gây ra.

6.1  Chẩn đoản

❖    Đặc điểm lưu hành: cúm là căn bệnh phổ biến có tính thòi tiết rõ ràng, đa số phát bệnh khi thòi tiết chuyển mùa cuối thu-đầu đông và cuối đông-đầu xuân. Bệnh phát rất nhanh, hoành hành trên diện tích rộng lớn, tỷ lệ tử vong thấp. Lợn ở mọi độ tuổi, giới tính và chủng loại đều có thể dễ mắc bệnh này. Đã xác nhận được rằng vi-rút cúm tuýp III ở người có thể lây nhiễm trong tự nhiên và lây truyền cho các động vật khác.

❖    Triệu chứng lâm sàng: cúm thường phát bệnh đột ngột, thường cả đàn đồng thời phát bệnh, thân nhiệt tăng cao đến 40-42°C, chán ăn hoặc bỏ bữa, nằm không muốn đứng, thở nhanh, kèm theo ho bộc phát, mũi và mắt tiết dịch trong suốt. Phần lớn phục hồi sau khoảng 1 tuần. Nếu quản lý chế độ ăn và điều dường trong quá trình lợn mắc bệnh không tốt, lợn có thể tiếp tục nhiễm thêm bệnh viêm phổi, viêm màng não và các bệnh nghiêm trọng khác hoặc tử vong.

❖    Sự thay đổi bệnh lý: niêm mạc mũi, họng, khí quản và phế quản sung huyết, trên bề mặt có bọt nhầy; phổi thành màu đỏ tím, như thịt bò tươi, chạm vào thấy cứng.

6.2.    Phương pháp phòng ngừa và chữa trị

❖    Nghiêm túc thực hiện chế độ vệ sinh phòng ngừa dịch tễ, tăng cường công tác quản lý chế độ ăn, phòng lạnh giữ ấm cho chuồng lợn, giữ chuồng sạch sẽ khô ráo, không khí luôn sạch mới.

❖    Kịp then điều trị triệu chứng: có thể chọn Dipyrone, Aminopyrine, họp chất của Quinine và các thuốc giảm đau hạ sốt khác tiêm vào bắp lợn; chọn kháng sinh và Sulfonamide để phòng tiếp tục nhiễm bệnh. Cũng có thể dùng Moroxydine, Amantadine và các cách xử lý khác. Còn phải phối hợp điều dưỡng, luôn có thể nhận được hiệu quả tốt.

7.    Bệnh phù nề (chứng thủy thung)

Bệnh phù nề là bệnh lây truyền cấp tính thậm chí dẫn đến tử vong do mầm bệnh E.coli gây ra cho lợn con. Bệnh thường phát bệnh trước và sau khi cai sữa, nhỏ nhất là vài ngày tuổi, lớn nhất là từ 3-5 tháng cũng có thể đột nhiên mắc bệnh. Tỷ lệ phát bệnh trong đàn lợn là 10-35%, tỷ lệ tử vong lên tới 80-100%.

7.1.    Chẩn đoán

❖    Dịch tễ học: Bệnh phù nề thường thấy ở lợn con trước và sau khi cai sữa được nuôi dưỡng tốt và cơ thể khỏe mạnh, đột ngột phát bệnh, thời gian ngắn, nhanh chóng tử vong. Lợn bệnh thường có quan hệ vói các yếu tố căng thẳng như cai sữa, thay đổi môi trường, chia đàn, vận chuyển, tẩy giun, tiêm chủng, khí hậu thay đổi, thức ăn thay đổi. Ngoài ra, đây là bệnh truyền nhiễm, nhưng thường hạn chế trong đàn chứ không lây lan ra khu vực rộng.

❖    Triệu chứng lâm sàng: Biểu hiện sớm nhất thông thường phát hiện 1 -2 con lợn con chết, chưa thấy được triệu chứng. Kiểm tra cẩn thận phát hiện thấy có một vài con bị tiêu chảy nhẹ (sau khi táo bón), ăn ít hoặc không ăn, thở nhanh và không sâu, tim đập nhanh. Đa số lợn bệnh trước và sau có xuất hiện phù nề ở mí mắt, kết mạc, nướu, mặt, cổ, bụng dưới da, những điều này có cho thấy triệu chứng của bệnh. Một số con lợn phát bệnh đột ngột, mất điều hòa vận động khi vận động trong chuồng hoặc mù vận động. Một số con, bốn chân bơi giống, co giật, cảm ứng nhạy cảm, phát ra tiếng rên hoặc tiếng kêu khàn. Khi đứng, lưng võng, run rẩy, có khi hai chân trước hoặc hai chân sau tê liệt, không thể đứng vững.

❖    Sự thay đổi bệnh lý: chủ yếu là phù nề, có thể thấy ở dưới lớp da mí mắt, sắc mặt, hàm dưới, đỉnh đầu xám trắng thạch giống như phù nề; lớp niêm mạc dạ dày và giữa các lớp thịt hình thành lớp giống thạch, như bị phù nề; niêm mạc kết hàng và hạch bạch huyết, niêm mạc một phù nề.

7.2.    Phương pháp phòng ngừa và chữa trị

Lợn con 7 ngày tuổi mới bắt đầu cho ăn, khi cần người nuôi phải dùng tay cho ăn hoặc vo viên cho ăn, mỗi ngày cho ăn 3-4 lần, rèn lợn ăn đến khi quen với thức ăn và khả năng độc lập ăn uống.

❖    Thiết lập phương pháp nhằm loại bỏ hoặc giảm bớt các yếu tố gây căng thẳng cho lợn cai sữa chuyển đàn, không nên cai sữa quá đột ngột, đầu tiên nên giảm bớt số lần cho ăn sữa trong vài ngày, sau đó tách lợn mẹ ra khỏi lợn con, để lợn con thích nghi trong chuồng cũ vài ngày, sau đó đồng loạt chuyển cả ổ vào mạng lưới chăn nuôi, 1-2 ngày đầu phải giảm bớt thức ăn, sử dụng máng cho uống tự động. 10-14 ngày sau khi cai sữa dần chuyển thức ăn cho lợn con từ thức ăn dạng viên thành thức ăn cho lợn trưởng thành. Trong thời gian này phải ngăn ngừa những con lợn to cá biệt ăn quá nhiều.

❖    Một tuần trước khi cai sữa tiêm vắc-xin phù nề cho lợn, có thể giảm thiểu sự phát sinh bệnh dịch này.

❖    Lợn con cai sữa dùng Natri selenite-vitamin E tiêm chủng hoặc trộn vào thức ăn.

❖    Trong vòng 10 ngày sau khi cai sữa, tốt nhất là giảm hàm lượng chất đạm trong thức ăn.

8.    Bệnh nhiễm kỷ sinh trùng Toxoplasma (bệnh bệnh Toxoplasmosis)

Là một bệnh nhiễm ký sinh trùng trên động vật do ký sinh trùng Toxoplasma gondii gây ra.

8.1.    Chẩn đoán

❖    Đặc điểm lưu hành: Bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma thường phát bệnh vào mùa thu hè, ở những nơi nóng ẩm, đặc biệt nghiêm trọng ở lợn con 3-5 tháng tuổi. Bệnh này có thể lây từ lợn mẹ sang con trong quá trình mang thai, khiến lợn mẹ mang thai sinh sớm hoặc sinh con phát triển không toàn diện hoặc thai bị chết; bệnh có thể lây qua niêm mạc đường tiêu hóa, đường hô hấp và côn trùng hút máu.

❖    Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng của bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma tương tự như triệu chứng của bệnh sốt lợn và cúm lợn. Ban đầu thân nhiệt của lợn tăng cao đến 40-42°C và ngừng 7-10 ngày, ăn ít hoặc bỏ ăn, táo bón. Dưới da ở tai, môi và tử chi có hiện tượng tím tái hoặc xuất hiện các điểm tắc nghẽn. Thở nhanh, mũi khô có hắt hơi, ho, thở khó khăn, mõm có chảy dãi trắng, có thể ngạt thở và tử vong.

❖    Sự thay đổi bệnh lý: Bệnh chủ yếu là sự phù nề mức độ cao ở phổi, các thùy kẽ tăng kích cỡ, trong thùy kẽ chứa dịch mờ đục, trong khí quản và phế quản có một lượng dịch nhầy lớn, có biểu hiện viêm phổi. Toàn thân xuất hiện hạch to, hoại tử điểm nhỏ. Gan hơi sưng tấy, màu đỏ xám và có một vài điểm hoại tử nhỏ; lá lách cũng hoi sưng màu đỏ; hạch bạch huyết mạc treo ruột sưng to.

8.2.    Phương pháp phòng ngừa và chữa trị

❖    Dùng nhóm thuốc Suionamide có thể kiểm soát sự phát triển căn bệnh Toxoplasmamosis, giảm thấp tỷ lệ tử vong, rút ngấn thời gian mang bệnh.

❖    Phải phòng và diệt chuột, tránh để thức ăn bị phân chuột, mèo làm bẩn, nghiêm cấm dùng chất thải chưa qua xử lý trong giết mổ và chất thải chuồng trại để cho lợn ăn.

❖    Tăng cường vệ sinh tiêu độc môi trường, do Ocyst có thể kháng lại chất khử độc thông thường và pH, có thể tiến hành khử trùng tiêu độc bằng cách dùng lửa, dung dịch Natri hydroxide 3%, Lysol 1%, Amoniac 0,5%, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

9.    Bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm (Pleuropneumonia)

9.1.    Chẩn đoán

❖    Đặc điểm lưu hành: lợn ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm, nhưng lợn từ 6 tuần đến 6 tháng tuổi là dễ mắc bệnh này nhất. Lợn bệnh và lợn mang mầm bệnh là nguyên nhân gây truyền nhiễm. Vi khuẩn chủ yếu tồn tại ở phể quản, phổi, trong nước mũi, hình thành những giọt lây nhiễm, lây qua đường hô hấp. Bệnh này thường xảy ra theo mùa, đa số bùng phát vào khoảng tháng 4-5 và tháng 9-11. Yếu tố căng thẳng có thể làm tăng sự phát bệnh.

❖ Triệu chứng lâm sàng: thời gian ủ bệnh là 1 -7 ngày. Bệnh căn cứ vào mức độ phân thành ba thể: quá cấp tính, cấp tính, mãn tính.

-    Thể quá cấp tính: lợn đột ngột phát bệnh viêm màng phổi truyền nhiễm, giai đoạn đầu sốt cao, chán nản, không ăn, đi ngoài và nôn mửa nhẹ trong thời gian ngắn, chưa rõ các triệu chứng hệ hô hấp. Giai đoạn sau thở gấp, khó khăn, thường ngồi chống chân, há miệng, chảy nước mũi có màu đỏ, mạch và tim đập nhanh, phần da ở tai, mũi, tứ chi xanh tím, tử vong trong 24-36 giờ, cá biệt có lợn con trước khi chết không thấy bất cứ biểu hiện nào. Tỷ lệ tử vong 80-100%.

-    Thể cấp tính: Khi lợn bị bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm thân nhiệt tăng cao, thở khó khăn, ho, tim đập nhanh, quá trình của bệnh ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài nên độ dài ngắn không cố định, có thể biến thành bán cấp tính hoặc mãn tính.

-    Thể bán cấp tính và mãn tính: thường thấy lợn thèm ăn chất thải, ho vô thức hoặc ho liên tục, thòi gian kéo dài, xuất hiện hô hấp bất thường trong một thời gian nhất định, thường từ vài ngày đến 1 tuần, hoặc được chữa khỏi hoặc tiến triển thành ác tính. Khi bùng phát ban đầu có thể sẩy thai ở lợn cái, một vài trường hợp có thể thấy viêm khớp, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và ổ áp xe ờ những vị trí khác nhau.

❖ Sự thay đổi bệnh lý:

-    Thể quá cấp tính: quan sát có thể thấy lợn bị bệnh chảy nước mũi có máu, khí quản và phế quản chứa đầy dịch nhầy có máu. Biểu hiện thay đổi bệnh lý ở giai đoạn đầu là phù nề ở phế nang và mô kẽ, các mạch bạch huyết mở rộng, phổi đầy máu, xuất huyết và hình thành viêm phổi và màng phổi hóa sợi, dính sườn. Bệnh viêm phổi thường biến chuyển nhiều ở phía trước dưới phổi, ở phía sau trên phổi đặc biệt là xung quanh phế quản chính gần với rốn phổi, thường xuất hiện những vùng hoặc điểm hoại tử xuất huyết rất rõ.

-    Thể cấp tính: viêm phổi ở lợn thường chia thành hai dạng, thường phát bệnh ở phổi thùy, các tổn thương thường có màu tím đỏ, cứng, có viền rõ, dịch kẽ tích lũy màu đỏ keo, có sợi máu đông do Pleuropneumonia gây ra. Mao mạch cầu thận, động mạch hướng tâm, động mạch gian tiểu thùy chảy máu, hoại tử ở thành mạch.

-    Thể bán cấp tính: lá phổi có tổn thương u hạt lớn hoặc có điểm rỗng hoại tử bị vỡ, nếu bị lây nhiễm thêm có thể chuyển biến thành tổn thương có mủ, thường thấy màng phổi có viêm sợi máu đông.

9.2.    Phương pháp phòng ngừa và chữa trị

Sử dụng tổng hợp các phương pháp phòng ngừa chữa trị bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm, nâng cao vệ sinh môi trường, quản lý chặt chẽ, giảm bớt các yếu tố gây căng thẳng. Khi dùng thuốc chữa trị phải làm thí nghiệm độ nhạy cảm, để chọn thuốc tốt nhất.

10.    Polyserositis và viêm khớp

10.1.    Chẩn đoán

❖    Đặc điểm lưu hành: bệnh Polyserositis thường gặp ở lợn con 10-14 ngày tuổi, lợn con từ 2-14 ngày tuổi cũng có thể mắc bệnh, 5-8 tuần tuổi dễ nhiễm bệnh này nhất, đặc biệt là sau khi cai sữa khoảng 10 ngày rất dễ phát bệnh. Bệnh lây qua đường hô hấp khi lợn thờ, chủ yếu lây trực tiếp trong không khí, ngoài ra còn những con đường lây nhiễm khác, ví dụ như lây qua đường tiêu hóa.

❖    Triệu chứng lâm sàng: biểu hiện là viêm thanh mạc, viêm khớp, viêm phức mạc, viêm màng phổi, viêm mảng ngoài tim và gầy nhanh chóng; thể cấp tính sốt (40- 42°C), lợn thường ừầm cảm, biếng ăn, khó thở, đau đớn, trắng bệch, dưới phù nề, sụt cân mạnh, khớp sưng tấy, vận động khó khăn, khập khiễng, cơ run rẩy, tứ chi choãi ra như bơi, có khi không có triệu chứng nào cũng đột ngột chết.

10.2.    Phương pháp phòng ngừa và chừa trị: thực hiện cai sữa sớm cho lợn bệnh đề phòng kéo dài sự lây nhiễm, tránh tiếp xúc trực tiếp với tác nhân lây nhiễm, thực hiện chế độ “vào bao nhiêu, ra bấy nhiêu”, ngăn chặn việc lợn bệnh và lợn dễ mắc ở chung đàn; tăng cường dinh dường, giảm căng thẳng, duy trì vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, nhiệt độ ổn định, môi trường sống thích hợp. Miễn dịch khoa học, thời gian bảo vệ trong 6 tháng.

11.    Bệnh rối loạn sinh sản không lây nhiễm ở lợn cái

11.1. Viêm vú

❖    Nguyên nhân gây bệnh: bệnh viêm vú do vệ sinh môi trường chuồng trại lợn quá kém, khử trùng không nghiêm ngặt, tổn thương cơ học và vi khuẩn gây bệnh từ trong chuồng lợn mẹ gây nên.

❖    Triệu chứng: vú lợn chuyển cứng, vú sưng đỏ, có cảm giác đau đớn, dùng tay ấn, từ đầu vú tiết ra màu vàng xanh, lọn con sau khi bú bị tiêu chảy dai dẳng, lợn mang thai và cho bú lần sau xuất hiện hiện tượng sữa ít hoặc không tiết sữa, số lượng vú còn dừng được giảm.

❖    Cách phòng ngừa và chữa trị: tăng cường dinh dưỡng cho lợn mẹ, đảm bảo sức khỏe lợn mẹ, kiểm soát tình trạng cơ thể, nâng cao sức kháng thể và chất lượng sữa, giảm xác suất mắc bệnh viêm vú ờ lợn.

Tăng cường quản lý, đảm bảo vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, kb.ô ráo, tiêu độc khử trùng định kỳ cho chuồng hoặc nơi nằm của lợn mẹ (3-7 ngày), có thể dùng Natri hydroxide 2%, thuốc khử trùng khác tiến hành tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh trong môi trường.

Tăng cường rửa sạch và khử trùng lợn mẹ sắp sinh, lợn mẹ trước khi vào chuồng sinh hoặc sắp sinh; đối với toàn thân lợn mẹ, đặc biệt là âm hộ, vú, đầu vú, dùng thuốc tím-kali permanganate 0,1% để rửa, khử trùng nhiều lần, tiêu diệt chất bẩn ứong phòng sinh, loại trừ vi sinh vật gây bệnh trên đầu vú và tác nhân truyền nhiễm.

Kiểm tra định kỳ chỗ nằm hoặc chuồng nuôi lợn con loại trừ các vật sắc nhọn, ngăn ngừa vật sắc làm đau lợn mẹ trong chuồng.

Lợn mẹ trước và sau ngày cai sữa 3 ngày cần giảm bớt thức, ăn lượng thức ăn, tránh lợn mẹ sau khi cắt sữa không thể kịp thời cạn sữa, gây ra viêm vú.

Điều trị bệnh viêm vú sớm sẽ mang lại hiệu quả tốt, phối hợp sử dụng rau diếp cá cùng với dùng Penicillin và Streptomycin tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

11.2.    Viêm tử cung

❖    Nguyên nhân gây bệnh: bệnh viêm tử cung chủ yếu là do phối giống (phối giống nhân tạo) hoặc thao tác khi sinh nở không đúng quy định gây nên, khiến vi khuẩn xâm nhập vào tử cung sau khi sinh, vi khuẩn trong tử cung sẽ sinh sản mạnh và gây bệnh.

❖    Triệu chứng: biểu hiện chủ yếu là trong sau thời kỳ lợn mẹ cho con bú, sau khi cai sữa, khi phát dục trong đường sinh dục của lợn tiết ra mùi hội, sau khi phát dục vô sinh.

❖    Cách phòng ngỉra và chữa trị: kiên trì chế độ ăn khoa học cho lợn cái mang thai, sử dụng thức ăn tốt và để lợn mẹ trong then khi mang thai vận động thích hợp, đảm bảo khi sinh nở có thể chất tốt, tăng tính co bóp cho tử cung, có lợi cho việc rặn đẻ.

Lợn mẹ sau khi sinh 1-2 ngày tiêm Penicillin và Streptomycin, có lọi cho việc phòng ngừa bệnh viêm tử cung.

Duy trì vệ sinh môi trường chuồng trại lợn con mới sinh, thường xuyên khử trùng tiêu độc định kỳ, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh, tác nhân gây bệnh, giảm thiểu cơ hội lây bệnh truyền nhiễm.

Nếu sau khi sinh 2 giờ, thai nhi vẫn không thể ra, nên tiêm Vasopressin hoặc Oxytocin 10-20 IU. Khoảng cách giữa mỗi lần tiêm là 1 giờ, tăng cường sự co bóp ở tử cung lợn mẹ, thúc đẩy sự rặn đẻ.

Lợn mẹ sau khi cai sữa, âm đạo thường tiết rất nhiều dịch nhầy viêm, và màu sắc tương đổi sậm, nên dùng phương pháp rửa tử cung (thao tác này do người có chuyên môn thục hiện), sau khi rửa sạch tử cung phải sử dụng thuốc kháng sinh liều cao tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch (Penicillm8.000.000 IU, Streptomycin 4.000.000 IU) và dịch truyền vào tử cung thuốc kháng sinh.

11.3.    Không phát dục

❖ Nguyên nhân gây bệnh: khi lợn cái hậu bị được 7-8 tháng tuổi vẫn chưa động dục, chủ yếu là do yếu tổ dinh dưỡng gây nên. Trong trường hợp ở các mô hình chăn nuôi quy mô nhỏ tại nông thôn, thức ăn cho lợn hậu bị chủ yếu sử dụng, ngô, cám, cỏ các loại, thức ăn vụn, thiếu các chất vitamin, nguyên tố vi lượng, axit amin, chất đạm cần thiết, dẫn đến buồng trứng và tử cung của lợn hậu bị phát triển không tốt, động dục muộn hoặc không động dục; ngoài ra, một số lợn hậu bị khả năng buồng trứng bẩm sinh đã không phát triển bình thường nên không thể phát dục, nhưng những con lợn ừong trường hợp này chi chiếm khoảng 5%.

Lợn cái đã sinh sản sau khi cai sữa không phát dục nguyên nhân nhiều nhất là do khả năng buồng trứng, suy buồng trứng và u nang hoặc thể vàng còn sót lại gây nên; nguyên nhân tiếp theo là do dinh dưỡng thời kỳ cho bú không tốt, thiếu hụt một vài loại vitamin, nguyên tố vi lượng, lượng thực ăn không đủ, quá gầy, hoặc quá béo.

❖ Cách phòng ngừa và chữa trị: lợn cái hậu bị để nhanh động dục, cần phải sử dụng thức ăn chuyên dụng tốt sau khi lợn đạt 70-80kg, bảo đảm nhu cầu và sự cân bằng các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết khi lợn cái phát dục, sau khi lọn hậu bị đạt 80kg nên chuyển thành thức ăn chuyên dùng cho lợn mang thai và kiểm soát chặt chẽ lượng thức ăn (mỗi ngày 1,8-2,2kg), ngăn chặn thừa cân; tiếp theo, tăng cường cơ hội trực tiếp tiếp xúc giữa lợn cái hậu bị và lợn đực, kích thích phát dục, còn có thể tiêm PG600 (4001 PMSG và 200IU hcG) để lợn cái hậu bị kéo dài sự phát dục.

Lợn cái đã sinh sản trong quá trình mang thai nên cho ăn thức ăn tốt, đảm bảo nhu cầu và cân bàng các loại vitamin, nguyên tố vi lượng, axit amin cần thiết cho lợn cho con bú và nỗ lực cho lợn ăn tự do trong mức cho phép, đảm bảo thể trạng của lợn mẹ sau khi cai sữa, nghiêm cấm dùng bột (bánh) hạt bông, bột (bánh) hạt cải dầu cho lợn mẹ ăn.

Đối với lợn mẹ đã cai sữa sau 20 ngày vẫn chưa phát dục phải sớm chữa trị, thuốc chữa chủ yếu được dùng có Prostaglandin, huyết thanh ngừa mang thai, hóc-môn, Diethylstilbestrol và các loại khác.

11.4. Sẩy thai do trúng độc và vật lý

❖    Nguyên nhân gây bệnh: nguyên nhân gây ra rất phức tạp, nhưng nguyên nhân thường gặp nhất là do bệnh truyền nhiễm, nếu nhiễm Parvovirus, bệnh giả dại, hội chứng rổi loạn sinh sản và hô hấp, sốt lợn, viêm não vi-rút (bệnh JE), và các bệnh khác, sẩy thai do trúng độc và vật lý cũng có thể gặp trong quá trình nuôi dưỡng lợn sinh sản. Nguyên nhân thường gặp nhất là do cho lợn đang mang thai ăn thức ăn bị nấm mốc biến chất, như ngô mốc, cám lúa gạo, bột đậu nành bị mốc; tiếp theo là do cho lợn ăn những thức ăn có chứa độc tố như bột (bánh) hạt bông, bột (bánh) hạt cải dầu, hạt lanh, sẩy thai do tác động vặt lý đa phần là do lợn bị ngã, đánh nhau, tiêm chủng không đúng và các yếu tố khác gây nên.

❖    Cách phòng ngừa và chữa trị: tránh sử dụng thức ăn nấm mốc cho lợn mẹ ăn, cấm sử dụng thức ăn chứa bột hạt bông, bột hạt cải dầu cho lợn mẹ ăn.

Duy trì chuồng yên tĩnh, các công tác tiêm phòng, chuyển đàn, hợp đàn cố gắng làm cẩn thận, giảm thiểu yếu tố căng thẳng, tránh sẩy thai.

Trên đây là “CHUẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG TRANG TRẠI“  để biết được  các kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt khác mọi người có thể truy cập các bài viết liên quuan dưới đây .
Mọi thắc mắc các bạn có thể điền vào form bên dưới hoặc gửi email kythuatnuoitrong.vn@gmail.com

 

Bài viết liên quan

Liên hệ với chúng tôi